

SAI LỆCH DO LỰA CHỌN
VÀ SAI LỆCH DO THÀNH KIẾN
(Selection Bias and Confirmation Bias)
P. Nguyễn Văn Sáng, 58
Lời tác giả: Hơn 200 năm về trước, Tổng Thốnh Hoa kỳ Thomas Jefferson từng nói;” Người không đọc gì cả còn có giáo dục hơn người không đọc gì hết ngoài báo chí.” Lý do là vì hầu hết các báo chí (và các phương tiện truyền thông xã hội khác) đều theo phe phái hoặc thương mại nhằm thu hút kháng, thính và đọc giả hơn là trình bài sự thật và quan điểm khách quan. Chính vì thế các phương tiện truyền thông nầy thường phạm vào “sai lệch do lựa chọn.” Về phía kháng, thính và đọc giả thường lâm vào tình trạng “sai lệch do thành kiến.” Báo chí tạo cho họ một thành kiến quá sâu đậm và vì thế Thomas Jefferson cho rằng họ còn kém giáo dục hơn người không đọc gì cả. Tôi hy vọng bài viết nầy sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về câu danh ngôn của vị Tổng Thống thứ 3 của Hoa kỳ. – S58
A. Thế nào là Sai Lệch Do Lựa Chọn?
Những tác giả được coi là sai lệch do lựa chọn khi họ cố tình lựa chọn và viết ra các dữ kiện hợp với kết luận mà họ muốn thuyết phục độc giả. Dùng bảng thống kê về hiệu qủa của thuật thôi miên trong việc chữa bệnh ghiền thuốc lá, người ta có thể cắt nghĩa rõ ràng về sai lệch do lựa chọn. Tác giả A chẳng hạn, muốn quảng cáo cho thuật thôi miên, viết thôi miên là một phương pháp hữu hiệu để trị bệnh ghiền thuốc lá trên một tờ báo địa phương, ông ta chỉ dùng con số trong ô (1, A) của Bảng # 1, trong đó có 60 người dùng thuật thôi miên đã bỏ hút thuốc lá. Ngoài ra tác giả còn đưa ra tên và địa chỉ của người được thôi miên và bỏ thuốc lá được. Tuyệt nhiên, tác giả nầy không đưa ra hoặc luận bàn về các con số khác.
Người đọc tin nầy dĩ nhiên là tin vì tác giả đưa ra con số chính xác và đưa cả tên và địa chỉ của người bỏ thuốc lá nhờ vào thuật thôi miên. Rõ ràng tác giả A phạm vào lỗi sai lệch do lựa chọn vì ông ta chỉ chọn và đưa lên báo chỉ một con số, dù là thật và chính xác, nó không giúp cho độc giả có một kết luận khách quan.
Tuy nhiên, nếu tác giả A tiết lộ thêm con số trong ô (1, B), tức là có 140 người được thôi miên nhưng không thể bỏ thuốc lá được. Thêm con số đó, độc giả sẽ thấy rằng trong 200 người được thôi miên, chỉ có 60 người bỏ thuốc lá được. Điều nầy có nghĩa là xác suất thành công của thôi miên chỉ là 0.30 (tức là 30%, xem Bảng # 2). Nếu tác giả không thêm một con số nào khác, độc giả cũng còn tin rằng thôi miên cũng có hiệu quả, mặc dù không được 100% (chỉ 30% thôi).
Bây giờ giả sử có một tác giả khác, tác giả B, có tinh thần khác quan, và đưa ra hết 2 bảng số, Bảng # 1 và Bảng #2. Quan sát cả hai bảng, độc giả thấy rằng trong 300 người quyết định dùng ý chí để tự mình bỏ thuốc (không dùng thôi miên), có 90 người thành công bỏ được thuốc. Bảng # 2 cho thấy rằng xác suất dùng ý chí để bỏ thuốc cũng là 30%.
Phân tích các con số thống kê trên đây, ta thấy rằng xác suất thành công của nhóm tự ý bỏ thuốc lá và nhóm dùng thuật thôi miên đều là 30%. Do đó, ta có thể kết luận rằng thuật thôi miên không có hiệu quả vì người không dùng thuật thôi miên cũng có một xác suất thành công là 30%. Nói theo thống kê học (statistics), sự khác biệt giữa dùng thuật thôi miên và dùng dùng ý chí để tự mình bỏ thuốc không đáng kể (not statistically significantly different from zero), trong trường hợp nầy là zero. [Nếu ta dùng Probit hay Logit models để ước tính hệ số hậu quả của thuật thôi miên, ta sẽ có một hệ số bằng zero].
Điều cần lưu ý là cái thống kê nầy dựa vào 1 cuộc thăm dò 500 người ghiền thuốc lá và muốn bỏ hút. Lý do mà số 30% người không dùng thôi miên bỏ được thuốc lá là vì họ có ý chí mạnh và có kỷ luật cao để thực hiện ước muốn của mình. Trong khi đó, 30% người theo thuật thôi miên cũng thành công trong ước muốn bỏ thuốc lá của họ. Đối với số người nầy một câu hỏi cần được đặt ra: Họ hỏ được thuốc lá là do thôi miên hay ý chí mạnh? Xét rằng nếu thôi miên có hiệu quả thì không cần có ý chí mạnh cũng bỏ được thuốc lá. Hơn nữa, đối với những người không dùng thôi miên cũng có 30% thành công trong ước vọng bỏ thuốc lá. Tỷ số nầy trùng hợp với tỷ số 30% của nhóm dùng thôi miên. Do đó, ta phải kết luận rằng tỷ số trung bình của người muốn bỏ thuốc lá thành công là 30%, dù có theo thuật thôi miên hay không. Và do đó thuật thôi miên không có hiệu quả trong việc trị bệnh ghiền thuốc lá.
Rõ ràng sai lệch do lựa chọn là một tiểu xảo được dùng một cách hữu hiệu trên mặt trận tuyên truyền, quảng cáo, hay nhồi sọ quần chúng.
Thí dụ điển hình về "Sai Lệch Do Lựa Chọn"
(1) Tác giả Lữ Giang
Một thí dụ điển hình về tác giả dùng tiểu xảo "Sai Lệch Do Lựa Chọn" là nhà báo Lữ Giang. Để buộc tội TT Nguyễn Văn Thiệu vì "thiếu khả năng” mà làm mất nước, Lữ Giang tìm đủ mọi cách để bôi xấu, gồm trích dẫn những tuyên bố của các nhà ngoại giao hoặc quốc phòng ... mà không cần phân tích -- Chẳng hạn, xem có phải là những lời nói có tính cách tuyên truyền hoặc xuất phát từ "frustration." Nhân vô thập toàn, đương nhiên TT Thiệu hoặc bất cứ ai cũng đều có khuyết điểm. Chỉ lựa chọn khuyết điểm để đi đến một kết luận có sẳn là lối viết bài cố hửu của Lữ Giang. Chẳng hạn, Lữ Giang viết:
“Trước 30.4.1975, Tổng Thống Thiệu không hề biết Mỹ đang làm gì và Việt Cộng đang làm gì, ngay cả Mỹ đem miền Nam giao cho Trung Quốc từ năm 1972 ông cũng không biết. Ông cứ suy nghĩ và hành động theo cảm tính, ôm chặt “Bốn Không” và nhìn vào số tiền viện trợ Mỹ để quyết định số phận của miền Nam: Mỹ viện trợ 2 tỷ, ta sẽ giữ cả miền Nam. Mỹ rút xuống còn 700 triệu, ta thu nhỏ lãnh thổ lại, chỉ giữ từ Tuy Hoà trở vào. Ông làm như miền Nam là của Mỹ, ông chỉ là người lính đánh thuê! Kết quả, thi hành những ý nghĩ ngông cuồng và thô thiển của mình, ông đã làm mất miền Nam trong không đầy 40 ngày, gây ra vô số tang tóc cho các chiến sĩ và dân chúng. Trên tỉnh lộ số 7 từ Pleiku về Tuy Hoà và trên các đường từ Huế đến Sai Gòn nơi nào cũng vung vãi đầy xe tăng, đại pháo, súng ống, quần áo trận..., máu, nước mắt và mồ hôi! “
Lữ Giang đưa ra những cáo buộc nghiêm trọng mà không có một dữ kiện nào để làm bằng chứng: Nào là "Tổng Thống Thiệu không hề biết Mỹ đang làm gì" nên làm mất MNVN. Nào là "Mỹ đem miền Nam giao cho Trung Quốc từ năm 1972". Lữ Giang viết như là một sự thật hiển nhiên không phản bác được. Thật ra, Lữ Giang không biết mình nói gì, bởi lẽ nếu Mỹ đã giao MNVN cho Trung cộng rồi, thì còn gì để TT Nguyễn V. Thiệu làm mất? Trên thực tế, Hoa kỳ đã quyết định rút quân và cắt viện trợ cho Miền Nam Viêt Nam trong khi đó Nga Xô và Trung cộng tiếp tục viện trợ cho Bắc Việt, thì Nguyễn V. Thiệu hoặc bất cứ ai khác cũng không thể giữ được MNVN.
Dĩ nhiên, Chính phủ VNCH, dù bất cứ ai lãnh đạo, cũng không thể thắng được Bắc Việt vì chúng được tiếp tục viện trợ của Nga Tàu, trong khi đó VNCH bị Hoa kỳ cắt hết viện trợ quân sự lẫn kinh tế. Đây là một sự thật hiển nhiên, nhưng ít người nhận thấy vì họ bị ảnh hưởng bởi sự sai lệch do lựa chọn lẫn sai lệch do thành kiến của báo chí, TV, và các tác giả viết theo "toa đặt hàng" của một lực lượng nào đó.
(2) Tác giả Trần Chung Ngọc (et al. trong nhóm giao điểm)
Với lòng thù nghịch đối với Công Giáo, VNCH và Hoa Kỳ, Trần Chung Ngọc luôn lựa chọn những sự kiện bất lợi cho "đối tượng thù nghịch của họ" để hướng dẫn độc giả đi đến một kết luận mà Trần Chung Ngọc mong muốn. Một thí dụ điển hình là Trần Chung Ngọc dùng hiện tượng lạm dụng tình dục (sexual abuses) của một thiểu số linh mục để nhục mạ đạo và tín đồ Công Giáo. Cái sai lệch do lựa chọn của Trần Chung Ngọc thật rõ ràng.
Thật vậy, theo wikipedia, trong khoảng thời gian từ 1950 đến 2002, có 4,392 linh mục (priests) bị cáo buộc (accused) lạm dụng tình dục, trong khi đó, tổng số linh mục đang phục vụ tại các giáo xứ, trường học ... trong khoảng thời gian nầy là 109,694 vị. Do đó, tỷ số bị cáo buộc chỉ có 4%. Điều nầy có nghĩa là 96% của tổng số linh mục trong khoảng thời gian nầy không liên can đến tệ trạng nầy. Rõ ràng, lựa chọn thiểu số 4% để lên án cả một tôn giáo là một "sai lệch do lựa chọn" đầy ác ý và không thể chấp nhận được.
Tưởng cũng nên nói rõ rằng số 4% nầy là bị cáo buộc. Dĩ nhiên số bị kết án có tội (guilty) có thể là ít hơn. Hơn nửa, thử phân tích một cách có khoa học: Cũng như trường hợp chữa bệnh ghiền thuốc lá, ta cần so sánh tập thể linh mục với tập thể không phải là linh mục. Theo các nhà nghiên cứu về tệ trạng nầy, tại Hoa kỳ có từ 10% [1 trong 10] đến 20% [1 trong 5] đàn ông Mỹ đã từng vi phạm tội dâm ô. Tôi xin trích đoạn sau đây trên tập san Newsweek:
"Các chuyên gia không đồng ý về tỷ lệ lạm dụng tình dục của đàn ông ở Hoa Kỳ, nhưng Allen cho biết một ước tính bảo thủ là 1 trong 10. Margaret Leland Smith, nhà nghiên cứu tại Trường Đại Học Hình Luật Jay John cho rằng tỷ lệ nầy là khoảng 1 trong 5. Nhưng trong cả hai trường hợp, tỷ lệ lạm dụng bởi các linh mục Công giáo không phải là cao so với những ước tính quốc gia "[Tạp chí Newsweek, 07 Tháng Tư 2010]. ("Experts disagree on the rate of sexual abuse among the general American male population, but Allen says a conservative estimate is one in 10. Margaret Leland Smith, a researcher at the John Jay College of Criminal Justice, says her review of the numbers indicates it's closer to one in 5. But in either case, the rate of abuse by Catholic priests is not higher than these national estimates. " [Newsweek Magazine, April 7, 2010])
Dựa trên các con số trên, tỷ số linh mục lạm dụng tình dục (tối đa là 4%) thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 10% đến 20% của đàn ông Mỹ từng lạm dụng tình dục. Sự khác biệt về tỷ lệ lạm dụng tình dục giữa 2 nhóm (linh mục và đàn ông không phải là linh mục ở Mỹ) là một khác biệt lớn theo khoa học thống kê (statistically significantly different). Do đó, nhóm thiểu số 4% linh mục bị cáo buộc lạm dụng tình dục không phải vì họ là linh mục công giáo mà chỉ đơn thuần là những đàn ông không có khả năng kìm hãm dục vọng. Hơn nữa, tỷ số 4% của linh mục thấp xa so với tỷ số 10% - 20% của đàn ông Mỹ cho thấy rằng tỷ số linh mục kìm hãm được dục vọng là 96%, cao hơn nhiều so với tỷ số của đàn ông Mỹ là từ 80% đến 90%. Do đó, ta có thể kết luận rằng thiên chức linh mục giúp cho đàn ông kìm hãm được dục vọng từ 6% đến 16% dựa trên thống kê.
B. Thế nào là Sai Lệch Do Thành Kiến?
Thiên lệch do thành kiến xảy ra khi người ta bị ảnh hưởng trực tiếp của một niềm tin. Khi người ta muốn một ý tưởng hay khái niệm nào đó là đúng, thì cuối cùng họ sẽ tin rằng điều đó là đúng. Họ được thúc đẩy bởi suy nghĩ mơ hồ. Sự sai lầm nầy khiến cá nhân không thu thập thêm tin tức khi các bằng chứng đã thu thập được xác nhận quan điểm (thành kiến) mà người ta muốn là đúng. Khi người ta đã hình thành một quan điểm, họ nắm lấy tin tức xác nhận điểm đó và bỏ qua hoặc từ chối các tin tức gây ra nghi ngờ về điều đó.
Sai lệch do thành kiến là chấp nhận một kết luận hợp theo sự hiểu biết hẹp hòi, kinh nghiệm hoặc sự tin tưởng riêng của mình. Thí dụ, một độc giả từng nghe đồn là thuật thôi miên chửa được bệnh ghiền thuốc lá, hoặc chính đương sự đã dùng thuật thôi miên và bỏ được thói quen hút thuốc lá, hoặc đã chứng kiến bạn mình đi chửa bệnh ghiền bằng thuật thôi miên nên đã tin tưởng vào thuật thôi miên. Do đó, khi đọc một bài viết khẳng định rằng thuật thôi miên chửa được bệnh ghiền thuốc lá thì họ tin ngay, không nghi ngờ bởi vì kết luận nầy đã xác nhận sự tin tưởng của mình. Tin tưởng vào một kết luận xác nhận sự tin tưởng của mình được gọi là "sai lệch do thành kiến".
(1) Tác giả Lữ Giang:
Mới đây, trong bài "Cuộc Chiến Bẩn Thỉu", Lữ Giang chọn lựa tư tưởng lấy từ "conspiracy theory" để cáo buộc đảng Cộng Hòa của Hoa Kỳ “cương quyết bênh vực quyền lợi của tập đoàn tài phiệt" mà không cần đưa ra bằng chứng chính xác hoặc bàn đến những lập trường hoặc quan niệm hay hiện tình kinh tế và các biện pháp khả thi để giải quyết vấn đề.
Trong bài "Trò Ảo Thuật Về Bầu Cử," Lữ Giang viết: "Nước Mỹ bầu tổng thống bằng cử tri đoàn theo một thể thức rất quái đản". Rõ ràng đây là một phát biểu đầy thành kiến của người không hiểu biết lịch sử cũng như tư tưởng chính trị của Hoa Kỳ. Phương thức bầu cử Tổng Thống đã được tác giả của hiến pháp Hoa Kỳ suy nghĩ và bàn thảo rất cẩn thận trước khi lập thành luật. Là người có học luật, tối thiểu Lữ Giang nên hiểu rằng không có một đạo luật nào (gồm cả luật bầu cử) là hoàn hảo và làm vừa lòng tất cả mọi người qua nhiều thời đại. Dĩ nhiên, người ta có thể chỉ trích phương thức “cử tri đoàn” (electoral votes) nhưng cho rằng thể thức nầy quái đản là vô cùng phi lý và thiếu hiểu biết. Tiền nhân của Hoa Kỳ dùng phương thức cử tri đoàn để cân bằng dân ý qua từng cá nhân và dân ý của tập thể tiểu bang (trong một quốc gia liên bang). Do đó, phương thức “cử tri đoàn” không là "một thể thức rất quái đản" như Lữ Giang phát biểu bừa bãi vô trách nhiệm.
Tưởng cũng nên lưu ý rằng thể thức bầu cử “lưỡng cách” (cử tri đoàn và bầu phiếu đại chúng) nầy khá hữu hiệu. Trong lịch sử Hoa Kỳ, chỉ có 3 trường hợp ngoại lệ mà ứng cử viên tổng thống thất cử, mặc dù có đa số phiếu đại chúng. Đó là trường hợp:
-- TT Rutherford Hayes đắc cử mặc dù thua Samuel Tilden 250,000 phiếu đại chúng (1876).
-- TT Benjamin Harrison đắc cử mặc dù thua Grover Cleveland 90,000 phiếu đại chúng (1888); và
-- TT George W. Bush đắc cử mặc dù thua Al Gore 546,000 phiếu đại chúng (2000).
Lữ Giang cho rằng "các thế lực tư bản đã quyết định chọn Bush (Cộng Hòa) phục vụ nhà giàu, phá hoại nền kinh tế của nước Mỹ và của cả thế giới”. Nếu thế thì tại sao các "thế lực tư bản" lại để cho các tổng thống Dân Chủ như Kennedy, Clinton hoặc Obama thắng cử? Rõ ràng phát biểu của Lữ Giang là một võ đoán và sai lệch do thành kiến.
Thật ra, lý do của kết qủa bầu cử "bất thường" kể trên chính là vì sự cân bằng giữa ý dân qua từng cá nhân và ý dân qua tập thể tiểu bang. Đối với các tiểu bang, ứng cử viên thắng phiếu đại chúng, dù chỉ hơn một lá phiếu cũng được tổng số phiếu cử tri đoàn của tiểu bang đó. Thí dụ vào năm 2000, TT G. W. Bush hơn Al Gore chỉ có 538 phiếu đại chúng, nhưng được thắng 25 phiếu cử tri đoàn của tiểu bang Florida. Trong khi đó, Al Gore hơn TT G.W. Bush 331,985 phiếu đại chúng và thắng 10 phiếu cử tri đoàn của tiểu bang Maryland. Nếu cộng số phiếu của Florida và Maryland, ta sẽ thấy TT Bush thắng phiếu cử tri đoàn, nhưng thua phiếu đại chúng. Kết qủa nầy rõ ràng là do trong tiểu bang "người thắng được tất cả" (winners take all). Quái đản? Nhất định là không vì thể thức cử tri đoàn theo luật đa số của chế độ dân chủ trong từng tiểu bang. Thật vậy, thí dụ nếu Hoa Kỳ loại bỏ thể thức cử tri đoàn, và kết qủa bầu cử chỉ dựa trên phiếu đại chúng, liên danh thắng cử dù chỉ 100 phiếu đại chúng sẽ 'lấy tất cả”: Liên danh đắc cử sẽ trở thành TT và Phó TT, có quyền chọn lực các thành phần nội các, thẩm phán tối cao pháp viện, thống đốc Ngân hàng Dự trữ Liên bang ... Còn liên danh thất cử không được gì, phải trở lại cuộc sống của người thường dân. Đây là kết quả của luật đa số. Như thế, ta có thể gọi đó là quái đản hay không? Rõ ràng, 100% là không!
Thí dụ điển hình về "sai lệch do thành kiến" thường được đọc trên báo chí hoặc nghe trên TV hoặc tại các quán cà phê:
(1) Trường hợp tăng thuế người giàu.
Có một số người đã có thành kiến và tin nên tăng thuế người giàu. Do đó, khi đọc thấy nhà tỷ phú Waren Buffett tuyên bố là chính phủ nên tăng thuế người giàu thì những người nầy xác quyết rằng đây là một chính sách đúng đắn và phải làm. Rõ ràng đây là một sai lệch do thành kiến bởi vì lời tuyên bố của ông W. Buffett nhắc lại sự tin tưởng của họ. Ngược lại, đối với các nhà làm chính sách (policy makers), họ phải khách quan hơn, chính xác hơn và khoa học hơn bằng cách nghiên cứu tình hình kinh tế, mức thuế suất tối hảo, và thái độ của người tiêu thụ cũng như nhà sản xuất ... Thiết lập chính sách quốc gia không thể cậy vào lời tuyên bố của một cá nhân, dù cá nhân đó có nổi tiếng như thế nào chăng nữa. Ngay cả các đại kinh tế gia và đại giáo sư kinh tế từ Harvard hay Stanford University đã và đang cố vấn cho cho các tổng thống Hoa kỳ, nhưng đến nay vẫn chưa tìm ra một chính sách khả thi để loại trừ các cuộc suy thoái kinh tế tại Hoa Kỳ. "Kinh bang tế thế" là một vấn đề phức tạp chứ không đơn giản như "tăng thuế nhà giàu" hoặc "tăng mức lương tối thiểu" là giải quyết được mọi chuyện.
(2) Trường hợp Hoa Kỳ dùng chiến tranh để phát triển kinh tế.
Đây là một quan niệm được truyền bá bởi "conspiracy theory" [A conspiracy theory is a belief which explains an event as the result of a secret plot by exceptionally powerful and cunning conspirators to achieve a malevolent end (Lý thuyết âm mưu là một niềm tin, nó giải thích một biến cố như là kết quả của một mưu đồ bí mật bởi những kẻ âm mưu vô cùng mạnh mẽ và xảo quyệt để đạt được một mục tiêu đầy ác ý.) -- wikipedia].
Quan niệm nầy được truyền bá trên các báo lá cải để hấp dẫn độc giả hoặc được luận bàn trong lúc "trà dư tửu hậu" để cắt nghĩa nguyên nhân của chiến tranh, nhưng không có một bằng chứng nào về cái âm mưu ghê gớm ấy. Ngược lại, báo chí và TV cũng thường cho rằng cuộc suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ vừa qua (2007-2009) là do TT Bush đã phát động 2 cuộc chiến Iraq và Afghanistan, gây ra thiếu hụt ngân sách trầm trọng đưa đến một mức quốc trái khổng lồ, đe dọa nền kinh tế Hoa Kỳ. Nếu quan điểm nầy đúng thì quan niệm dùng chiến tranh để phát triển kinh tế là một quan điểm khó được ủng hộ.
Trên thực tế, Liên Bang Xô Viết tham chiến ở VN bằng viện trợ cũng như chạy đua vũ khí với Hoa Kỳ là nguyên nhân sụp đổ kinh tế, đưa đến sự sụp đổ của Liên Xô. Trong khi đó, trong thập niên vừa qua, Trung cộng đã phát triển kinh tế nhờ theo chính sách kinh tế thị trường trong hoà bình qua mậu dịch quốc tế, chứ không nhờ vào chiến tranh. Ngoài ra, theo các sách giáo khoa về kinh tế học, chiến tranh luôn có hại cho các quốc gia tham chiến. Do đó quan niệm tin rằng Hoa Kỳ dùng chiến tranh để phát triển kinh tế là vô căn cứ.
Sau hết, tưởng cũng nên đưa ra một thí dụ rất điển hình riêng cho người VN về "sai lệch do thành kiến" là "trúng nước", trúng thực" hoặc "trúng gió". Xưa kia, người VN thấy một người chết vào ban đêm, mà hồi chiều đi làm về bị mắc mưa ướt đẫm, người ta kết luận là người ấy chết vì "trúng nước". Nếu hồi chiều một người ăn thịt vịt, chẳng hạn, thì người ta kết luận là người ấy chết vì bị "trúng thực". Đây là một sai lệch do thành kiến. Sự thật thì những người nầy có thể chết vì bị đau tim (heart attack) hay bị đứt mạch máu não (strokes). Đây là một "định kiến" sai lệch đã trở thành một niềm tin về nguyên nhân của cái chết. Hơn nữa, khi người ta đã tin một sự gì rồi, thì khó mà thuyết phục được họ.
LỜI CUỐI THAY KẾT LUẬN
Mục đích của bài viết nầy nhằm giới thiệu độc giả một lối suy luận khoa học về các vấn đề trước mặt. Ta cần phải hết sức cẩn thận khi kết luận về nguyên nhân và hậu quả của một sự kiện hoặc biến cố. Thường thì người ta hay cho rằng một sự kiện xảy ra trước là "nguyên nhân" của sự kiện xảy ra sau. Thí dụ, hồi chiều bị mắc mưa, tối chết, thì người ta cho rằng mắc mưa là nguyên nhân của cái chết, hoặc năm trước Hoa kỳ tham chiến ở một nơi nào đó, năm nay thị trường chứng khoán lên cao và nền kinh tế tăng trưởng nhanh, có người cho rằng chiến tranh là nguyên nhân của sự phồn thịnh. Trên thực tế thị trường chứng khoán thường bị ảnh hưởng do biến cố có thể xảy ra trong tương lai chứ không phải trong quá khứ. Thí dụ, nếu người ta nghĩ rằng nền kinh tế sẽ tăng trưởng mạnh trong một tương lai gần, người ta sẽ mua cổ phần, hy vọng giá cổ phần sẽ tăng khi nền kinh tế tăng trưởng, và do đó giá cổ phần tăng nhanh. Một điểm cần nhấn mạnh là dù hai sự kiện đã xảy ra thật sự, đó không hẳn là nguyên nhân và hậu quả. Thí dụ về thuật thôi miên: có 60 người dùng thôi miên và bỏ được thuốc lá, nhưng dựa theo các con số thống kê đầy đủ, ta thấy rằng thôi miên không phải là nguyên nhân của sự kiện bỏ thuốc lá. Sự thật người ta bỏ được thuốc lá là vì có ý chí mạnh.
Một điểm khác cần được nhấn mạnh là nhiều người nói rằng: "Sách, báo viết thế thì không đúng sao được!" Tuy nhiên theo Sturgeon' s law, "90% of everything (you read or hear) is trash." Và xin bảo đảm với các bạn là bài viết nầy thuộc về 10% con lại.
P. Nguyễn V. Sáng, 58
.jpg)
MỤC LỤC
-Chỉ cần làm bác ái là đủ?
-Hiểu sao cho đúng về "Tiền xin Lễ"
-Thế giới điều hành bằng kinh tế
-Sức mạnh của Thị trường tự do
-Tìm hiểu về quan thuế (tariff) và hậu quả
-Tính độc lập của Hệ thống Dự trữ Liên bang
-Vài Nhận Định về Tự do Mậu dịch
-Trung cộng có thể vượt qua Mỹ để làm bá chủ thế giới?
-Hệ thống Dự trữ Liên bang Hoa kỳ.
-Mù Chữ Về Kinh Tế Của Công Chúng Hoa Kỳ
-Tại sao trên thế giới có những quốc gia quá giàu, lại có những quốc gia quá nghèo
-Chỉ số Dow Jones, Nasdaq và S&P 500
-XÃ HỘI
-Vì sao cần loại bỏ một số ảo tưởng trong hôn nhân?
-“Nghệ thuật nhượng bộ” trong đời sống hôn nhân gia đình
TRUYỆN
-Khi Tiếng Buồn Rơi Lên Kiếp Người
-Bây Giờ, Giữa Hai Mươi Năm Và Một Làn Sương Cũ
THƠ
-Ta nhìn núi và lòng ta chiêm niệm
-Qua cầu nghe tiếng hát dân ca
-Bài hành mùa Thu (bình thơ của AI)
BẠN CŨ TRƯỜNG XƯA-- - -Exluros Hải ngoại
EXLURO SAIGON
-Khi thời gian không còn đợi chúng ta
-Nguyễn mạnh Hà một thời vẽ thiệp
-Chuyến họp mặttại CV Vĩnh Long
Hãy nhìn linh mục như một con người
-60 năm thành lập Chủng viện TGH Gioan XXIII – Mỹ Tho.
-Ngày đầu tiên vào Nhà Chúa
-Cảm nghĩ về mái trường Chủng Viện Thánh Giuse
-Kỷ yếu 150 năm TCV Thánh Giuse Saigon