

Người đứng đó ngóng về phương trời cũ,
Mắt chưa đầy dĩ vãng buổi xuân xưa
Thân phiêu bạt mỏi mòn bờ tóc rũ
Nhớ nhung gì mà kể chuyện mây mưa
Đêm trời rộng thẩn thờ mây viễn xứ
Trôi lang thang như lữ khách xa nhà
Này mây hỡi ! buồn chăng trong cuộc lữ
Lo sợ gì mà hớt hãi bay xa
Thân viễn khách lạc loài xa vắng
Gánh phong trần trĩu nặng hai vai
Tha phương khắc khoải canh dài
Nửa đời phiêu lãng vẫn hoài cố hương
Người đứng đó vai mang đầy tâm sự
Ngắm mây trôi chợt nhớ dãy sơn hà
Đời trôi dạt đã một lần sinh tử
Sơn hà ơi ! có còn nhớ người xa
Cầm lòng lại trong những ngày biệt xứ
Tiếc một phần ba thế kỷ lặng qua
Người cố đợi một lần về hối hả
Để nghe đời rộn rã khúc âu ca
Giục vó ngựa đơn phương một bóng
Lấy can trường hoà mộng chinh nhân
Chiến y tuấn mã phong trần (2)
Sơn hà vang vội tiếng chân ta về
Sơn hà ơi ! đợi tiếng chân ai về!
Bạch-Loan
Phân tích của AI
PHÂN TÍCH “ĐỢI, CHINH NHÂN” (BẠCH‑LOAN), SO SÁNH VỚI THƠ QUANG DŨNG VÀ HUY CẬN
I. Mở đầu
“Đợi, Chinh Nhân” của Bạch‑Loan là một thi phẩm giàu chất trữ tình, khắc họa sâu sắc tâm trạng của người viễn xứ mang nặng nỗi nhớ quê hương. Khi đặt bài thơ vào mạch thơ Việt Nam hiện đại, ta nhận thấy nhiều điểm tương đồng với nỗi nhớ hào hùng mà bi thiết trong thơ Quang Dũng, cũng như nỗi buồn vũ trụ, nỗi sầu nhân thế trong thơ Huy Cận.
Việc so sánh giúp làm nổi bật phong cách riêng của Bạch‑Loan, đồng thời cho thấy sự tiếp nối và biến đổi của cảm hứng hoài hương trong thi ca Việt.
II. Thân bài
1. Nỗi nhớ quê hương: từ bi tráng (Quang Dũng) đến u hoài (Huy Cận) và da diết (Bạch‑Loan)
1.1. Bạch‑Loan – nỗi nhớ của người viễn xứ giữa thời gian dài đằng đẵng
Trong “Đợi, Chinh Nhân”, nỗi nhớ quê hương hiện lên qua hình ảnh:
-
“Người đứng đó ngóng về phương trời cũ”
-
“Ngắm mây trôi chợt nhớ dãy sơn hà”
Nỗi nhớ ấy mang tính kéo dài, âm ỉ, được đo bằng “một phần ba thế kỷ lặng qua”. Đây là nỗi nhớ của người đã rời quê hương quá lâu, sống trong tâm thế chờ đợi mỏi mòn.
1.2. Quang Dũng – nỗi nhớ bi tráng của người lính
Trong “Tây Tiến”, Quang Dũng cũng viết về nỗi nhớ quê, nhưng đó là nỗi nhớ của người lính giữa chiến trường:
-
“Tây Tiến người đi không hẹn ước”
-
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói”
Nỗi nhớ của Quang Dũng mang màu sắc hào hùng, lãng mạn, pha chút bi thương nhưng không tuyệt vọng. Người lính nhớ quê nhưng vẫn hướng về phía trước, vẫn giữ khí phách “chiến y còn vương mùi thuốc súng”.
1.3. Huy Cận – nỗi nhớ mang tầm vũ trụ
Trong “Tràng Giang”, Huy Cận thể hiện nỗi buồn mênh mang:
-
“Lòng quê dợn dợn vời con nước”
Nỗi nhớ quê của Huy Cận không gắn với chiến tranh hay lưu lạc, mà là nỗi buồn hiện sinh, nỗi cô đơn của con người trước vũ trụ rộng lớn.
→ So sánh tổng hợp
Tác giảĐặc điểm nỗi nhớ
Bạch‑LoanNỗi nhớ của người viễn xứ, kéo dài theo thời gian, gắn với lưu lạc và khát vọng trở về
Quang DũngNỗi nhớ bi tráng của người lính, hào hùng và lãng mạn
Huy CậnNỗi nhớ mang tính triết lý, nỗi buồn vũ trụ, cô đơn hiện sinh
2. Hình tượng nghệ thuật: mây – sông – núi trong ba phong cách
2.1. Mây trong thơ Bạch‑Loan – biểu tượng của kiếp lưu lạc
-
“Đêm trời rộng thẫn thờ mây viễn xứ”
-
“Trôi lang thang như lữ khách xa nhà”
Mây là hình ảnh trung tâm, tượng trưng cho thân phận phiêu bạt, không nơi nương tựa.
2.2. Mây trong thơ Quang Dũng – phóng khoáng, lãng mạn
Trong “Tây Tiến”, mây gắn với núi rừng Tây Bắc:
-
“Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
Mây ở đây mang vẻ đẹp hùng vĩ, lãng mạn, không buồn bã như trong thơ Bạch‑Loan.
2.3. Mây trong thơ Huy Cận – nỗi buồn vũ trụ
Trong “Tràng Giang”:
-
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu”
Mây, gió, sông đều gợi cảm giác trống trải, cô đơn, mang tính triết lý.
→ Nhận xét
-
Bạch‑Loan dùng mây để nói về thân phận.
-
Quang Dũng dùng mây để nói về vẻ đẹp lãng mạn.
-
Huy Cận dùng mây để nói về nỗi buồn nhân thế.
3. Giọng điệu: từ hào sảng (Quang Dũng) đến trầm lắng (Huy Cận) và thiết tha (Bạch‑Loan)
3.1. Bạch‑Loan – giọng thơ thiết tha, day dứt
Giọng thơ lúc trầm buồn, lúc dồn dập:
-
“Cầm lòng lại trong những ngày biệt xứ”
-
“Sơn hà ơi! đợi tiếng chân ai về!”
Đây là giọng thơ của người chờ đợi, khắc khoải, nhưng vẫn giữ niềm hy vọng.
3.2. Quang Dũng – giọng thơ hào sảng, bi tráng
-
“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”
Giọng thơ mạnh mẽ, đầy khí phách, dù ẩn chứa nỗi buồn.
3.3. Huy Cận – giọng thơ trầm lắng, cổ điển
-
“Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”
Giọng thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, thiên về triết lý.
III. Kết luận
Khi đặt “Đợi, Chinh Nhân” bên cạnh thơ Quang Dũng và Huy Cận, ta thấy Bạch‑Loan đã tạo nên một giọng thơ riêng:
-
không bi tráng như Quang Dũng,
-
không triết lý như Huy Cận,
-
mà là nỗi nhớ quê hương của người viễn xứ, kéo dài theo thời gian, thấm đẫm nỗi cô đơn nhưng vẫn cháy bỏng khát vọng trở về.
Bài thơ góp thêm một tiếng nói độc đáo vào dòng thơ hoài hương của văn học Việt Nam, vừa tiếp nối truyền thống, vừa mang dấu ấn của thời đại lưu lạc.
MỤC LỤC
-Chỉ cần làm bác ái là đủ?
-Hiểu sao cho đúng về "Tiền xin Lễ"
-Thế giới điều hành bằng kinh tế
-Sức mạnh của Thị trường tự do
-Tìm hiểu về quan thuế (tariff) và hậu quả
-Tính độc lập của Hệ thống Dự trữ Liên bang
-Vài Nhận Định về Tự do Mậu dịch
-Trung cộng có thể vượt qua Mỹ để làm bá chủ thế giới?
-Hệ thống Dự trữ Liên bang Hoa kỳ.
-Mù Chữ Về Kinh Tế Của Công Chúng Hoa Kỳ
-Tại sao trên thế giới có những quốc gia quá giàu, lại có những quốc gia quá nghèo
-Chỉ số Dow Jones, Nasdaq và S&P 500
-XÃ HỘI
-Vì sao cần loại bỏ một số ảo tưởng trong hôn nhân?
-“Nghệ thuật nhượng bộ” trong đời sống hôn nhân gia đình
TRUYỆN
-Khi Tiếng Buồn Rơi Lên Kiếp Người
-Bây Giờ, Giữa Hai Mươi Năm Và Một Làn Sương Cũ
THƠ
-Ta nhìn núi và lòng ta chiêm niệm
-Qua cầu nghe tiếng hát dân ca
-Bài hành mùa Thu (bình thơ của AI)
BẠN CŨ TRƯỜNG XƯA-- - -Exluros Hải ngoại
EXLURO SAIGON
-Khi thời gian không còn đợi chúng ta
-Nguyễn mạnh Hà một thời vẽ thiệp
-Chuyến họp mặttại CV Vĩnh Long
Hãy nhìn linh mục như một con người
-60 năm thành lập Chủng viện TGH Gioan XXIII – Mỹ Tho.
-Ngày đầu tiên vào Nhà Chúa
-Cảm nghĩ về mái trường Chủng Viện Thánh Giuse
-Kỷ yếu 150 năm TCV Thánh Giuse Saigon